5.
Chu
kỳ kinh nguyệt sinh sản bình thường: dài,
rụng trứng trễ
Sự
trồi sụt của estrogen kích thích chất nhờn
cổ tử cung từng lúc mà không có hiện tượng
rụng trứng. Khi xảy ra hiện tượng này,
không có tăng nồng độ progesterone và không có “Đỉnh”.
Nồng độ estrogen tăng kích thích nội mạc
tử cung gây ra huyết. Khi nồng độ estrogen
tăng cao, sự ra huyết được gọi
là ra huyết do “chọc thủng” (breakthrough bleeding)
và khi nồng độ thấp thì được gọi
là ra huyết do sụt nội tiết (withdrawal bleeding) .
Biểu
hiện thường gặp
Biểu
hiện ít gặp
Xử
trí
-
Xác
định DKTTCB (khô trong ví dụ này).
-
Áp
dụng những qui luật Ngày đầu để
tránh thai.
-
Cách
đêm của những ngày khô đều thích hợp
cho giao hợp.
-
Áp
dụng qui luật “chờ đợi và quan sát 123” cho
tất cả những biến đổi – xem phần
hoa thị, biểu đồ 7: (a) chất nhờn;(b)
chất nhờn và ra huyết; (c) ra huyết không
có ngày Đỉnh trước đó.
-
Khi
có ngày Đỉnh, áp dụng qui luật ngày Đỉnh.
Chú ư: Bất kỳ một trường hợp
ra huyết không lư giải được đều
cần phải được khảo sát.
Dạng
không thụ thai cơ bản
Dạng
không thụ thai cơ bản là kiểu biểu hiện
phản ảnh sự cơ bản của nồng độ
estrogen thấp trong máu vào giai đoạn đầu
của chu kỳ (trước ngày Đỉnh). Khi nồng
độ estrogen tăng lên đủ để cổ
tử cung đáp ứng và bắt đầu có chất
nhờn.
Ở
một số trường hợp, ví dụ gần
măn kinh, hoặc có tổn thương do dùng thuốc
ngừa thai, cổ tử cung không thể đáp ứng
với nồng độ estrogen tăng và sản xuất
chất nhờn không đủ khả năng tạo
điều kiện cho tinh trùng sống sót. Dạng không
thụ thai cơ bản lại tiếp tục không
phụ thuộc vào sự rụng trứng. Không thể
có thụ thai.
Biểu
đồ 7. Rụng trứng trễ trong Chu kỳ kinh nguyệt sinh sản bình thường.
Biểu đồ được ghi bắt đầu
trước thời kỳ rụng trứng. Lưu
ư áp dụng luật “Đợi và xem 123” 5 lần trong
chu kỳ khi DKTTCB cũng trở lại 5 lần. Ng
ày 42 luật “Đợi và xem’ được áp
dụng, v à ng ày 46 Đỉnh được xác định
và luật Đỉnh được áp dụng.
|